Danh nhân văn hóa Cao Xuân Dục: Tấm gương sáng về đức độ và tinh thần phụng sự dân tộc

Thứ ba - 09/06/2026 22:10
1. Dòng họ Cao Xuân làng Thịnh Mỹ: Mạch nguồn khoa bảng và truyền thống hiếu học
Theo gia phả, bia đá của dòng họ Cao Xuân làng Thịnh Mỹ xã An Châu, tỉnh Nghệ An cho biết: Họ Cao Xuân đến vùng đất này khá sớm([1]), tuy nhiên hiện nay chỉ lưu được sắc phong và nội dung bia mộ ghi chép thông tin cụ thể từ đời cố của Cao Xuân Dục là Cao Văn Khanh làm Huyện thừa, huyện Trung Thuận đời Lê Trung Hưng([2]). Nếu tính từ Cao Văn Khanh đến nay dòng họ trải qua 10 đời với khoảng gần ba trăm năm, tồn tại và phát triển.
z7919923150623 22374022945376e39e68e77532eda325
Hình ảnh: Nhà thờ Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục, xã An Châu, tỉnh Nghệ An
Họ Cao Xuân làng Thịnh Mỹ là một dòng họ khoa bảng, danh gia vọng tộc tiêu biểu của Nghệ An. Trong quá trình hình thành và phát triển, dòng họ Cao Xuân lưu giữ giữ nhiều truyền thống tốt đẹp, nổi bật là truyền thống hiếu học và khoa bảng. Họ Cao Xuân cùng với các dòng họ Ngô Trí, Đặng Văn, Trần Huy, Nguyễn Xuân… đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng và hình thành nên truyền thống hiếu học, khoa bảng của vùng đất Diễn Châu.
 Theo thống kê sơ bộ của dòng họ, trong thời kỳ Hán học (tính từ  năm 1919 trở về trước), họ Cao Xuân có 1 người đỗ Phó bảng, 4 Cử nhân, 8 Tú tài, với nhiều nhân vật tiêu biểu như: Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục, Thượng thư Cao Xuân Tiếu, Tri phủ Cao Xuân Thọ, Tá lý bộ Lễ Cao Xuân Tảo v.v. Những thành tựu này đã góp phần khẳng định vị thế của họ Cao Xuân trong hệ thống các dòng họ khoa bảng tiêu biểu của Nghệ An nói chung, Diễn Châu nói riêng.
Phát huy truyền thống hiếu học của cha ông, con cháu dòng họ Cao Xuân tiếp tục đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong học tập và công tác với 2 Giáo sư, 2 Phó Giáo sư, nhiều Tiến sĩ và Thạc sĩ. Có thể kể đến một số gương mặt tiêu biểu như: Giáo sư Cao Xuân Huy, Giáo sư Cao Huy Đỉnh, Phó Giáo sư Cao Xuân Hạo, Phó Giáo sư Cao Xuân Phổ; Tiến sĩ y học tại Pháp Cao Xuân Cẩm; Tiến sĩ khoa học vật lý nguyên tử tại Pháp Cao Xuân Chuẩn; Tiến sĩ khoa học công nghệ tại Nhật Bản Cao Xuân Thành; Thạc sĩ luật học tại Mỹ Cao Xuân Phong .v.v.
Góp phần làm dày thêm truyền thống dòng họ Cao Xuân còn có nhiều mối quan hệ thông gia với các dòng họ và nhân vật tri thức khoa bảng đương thời trong số những người con rể của ông Cao Xuân Dục, có tới 4 người đỗ Đại khoa([3]) (Tiến sĩ, Phó bảng), 5 người đỗ Cử nhân Nho học và 1 người đỗ Cử nhân tân học tại Pháp([4]).
2. Bản lĩnh quan trường và tâm thế phụng sự quốc gia của Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục
Căn cứ các sách “Đại Nam thực lục”, “Văn bia Nghệ An”, “Cao Xuân Dục nhà văn hóa lớn của thời đại”, “Khoa Bảng Nghệ An”, “Bản lý lịch kê khai của Cao Xuân Dục”, “Từ điển nhân vật xứ Nghệ”, “Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Danh nhân Văn hóa Đông các Đại học sỹ Cao Xuân Dục năm 2012, “Lược truyện các tác gia Việt Nam”… cho biết: Cao Xuân Dục hiệu Long Cương([5]), tự Tử Phát, sinh ngày 13 tháng 9 năm Quý Mão (1843)([6]) tại làng Thịnh Khánh([7]), xã Cao Xá, tổng Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu (nay là xã An Châu, tỉnh Nghệ An). Thân phụ là Cao Văn Cự được phong ân sủng Tư thiện Đại phu, Lễ bộ Thượng thư([8]), thụy Trang
Lượng, trật tòng nhị phẩm. Thân Mẫu là Phạm Thị Tựu phong ân sủng là Đoan nhân, trật Chánh nhị phẩm.   
Từ nhỏ Cao Xuân Dục đã nổi tiếng thông minh, ham học, đến tuổi trưởng thành ông theo học với ba người thầy nổi tiếng là thầy Cao Trọng Sinh([9]), thầy Nguyễn Đức Đạt([10]), thầy Phan Hữu Tự([11]). Đến khoa thi Bính Tý niên hiệu Tự Đức thứ 29 (1876), ông đậu Cử nhân. Khoa bảng Nghệ An chép: “Cao Xuân Dục (1842 - 1923) xã Thịnh Khánh nay là xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu. Đậu khoa Bính Tý – Tự Đức 29 (1876)([12]).
Sau khi đậu Cử nhân, Cao Xuân Dục được bổ thụ chức Hàn lâm viện Điển tịch và chờ nhậm chức tại tỉnh Quảng Ngãi. Năm Mậu Dần (1878), ông được thăng lên giữ chức Tri huyện, huyện Bình Sơn, đến năm Canh Thìn (1880), thăng hàm Hàn lâm viện Biên tu, vẫn giữ chức cũ.
Năm Tân Tỵ (1881), Cao Xuân Dục được điều về kinh nhận chức Trực sảnh ty Tư vụ ở Bộ Hình([13]). Sau đó ông tiếp tục được điều sang làm việc Chủ sự tại Bắc điển ty([14])  thuộc bộ Hộ. Năm Nhân Ngọ (1882), ông được cử làm Tri phủ phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội([15]), đến năm Quý Mùi (1883), ông tiếp tục được thăng chức Thiếu khanh([16]) tại Hồng Lô tự, kiêm Biện lý bộ Hình, cuối năm đó ông được thăng chức Án sát tỉnh Hà Nội.
Năm Đinh Hợi (1887), Cao Xuân Dục được thăng Quang lộc Tự khanh, lĩnh Bố chánh sứ Hà Nội, thăng thụ Thị lang, sung Hải Phòng sứ. Năm Kỷ Sửu (1889), ông được giao giữ chức Tuần phủ Hải Dương, Tuần phủ Hưng Yên. Đến năm Canh Dần (1890), Cao Xuân Dục tiếp tục được thăng chức Tổng đốc Định - Ninh (tỉnh Nam Định và Ninh Bình), đến tháng 9 năm đó đổi giữ chức Tổng đốc Sơn -Hưng - Tuyên (các tỉnh Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang).
Năm Quý Tỵ (1893), Cao Xuân Dục được tấn phong tước An Xuân Nam, đến năm Ất Mùi (1895), thăng Thự([17]) Hiệp biện đại học sĩ([18]). Lúc này, ông được giao tạm giữ chức Hiệp biện Đại học sĩ trong Viện Cơ Mật, có nhiệm vụ cùng với các Đại học sĩ tham gia bàn quốc sự, phối hợp xử lý văn thư cơ mật, trợ lý và tham mưu trực tiếp cho vua về chính trị – hành chính. Đến năm Bính Thân (1896), ông tiếp tục được đổi làm Tổng Đốc Định – Ninh ( tỉnh Nam Định – Ninh Bình), năm Mậu Tuất (1898), Cao Xuân Dục lại được điều về kinh đô Huế cho giữ nguyên hàm, sung làm Phó Tổng tài([19]) Quốc Sử Quán([20]), thăng Vinh lộc đại phu([21]), thực thụ Hiệp biện Đại học sĩ. Sang năm Kỷ Hợi (1899), ông được sung Lưu kinh đại thần([22]) khi vua Thành Thái xa giá đi ra khỏi cung. Năm Tân Sửu (1901) Cao Xuân Dục được sung làm chủ khảo khoa thi Hội ở Huế. Năm Nhân Dần (1902), vua Thành Thái ngự giá Bắc tuần, Cao Xuân Dục tiếp tục được sung làm Lưu kinh đại thần. Đến năm Đinh Mùi (1907), ông được thăng chức Thượng thư bộ Học, Phụ chính đại thần, năm sau ban tước An Xuân Tử, hàm Thái tử Thiếu bảo([23]). Đến năm Quý Sửu (1913), niên hiệu Duy Tân thứ 7, Cao Xuân Dục được được thăng Đông các Đại học sĩ và hưởng chế độ hưu quan lúc 71 tuổi. Ông có 7 người vợ và 20 người con (8 người con trai và 12 người con gái), trong đó có một số người học hành thành đạt và có nhiều đóng góp cho quê hương đất nước như: Thượng thư Cao Xuân Tiếu, Tri phủ Cao Xuân Thọ, Nhà thơ Cao Ngọc Anh…
Với 37 năm làm quan, từ bước khởi đầu khiêm tốn ở vị trí chờ nhậm chức tại tỉnh Quảng Ngãi cho đến vị trí tứ trụ triều đình, Cao Xuân Dục kinh qua nhiều cương vị quan trọng ở địa phương cũng như ở trung ương. Dù đảm nhiệm công việc ở bất kỳ địa phương nào, trên cương vị và lĩnh vực nào, Cao Xuân Dục đều làm việc hết sức nghiêm túc, chuyên cần và mẫn cán. Mười năm sau khi nghỉ hưu, tức là năm Quý Hợi (1923), Cao Xuân Dục tạ thế vì tuổi cao sức yếu, hưởng thọ 81 tuổi, mộ táng tại nghĩa trang Cồn Phay, xóm Thịnh Mỹ, xã An Châu.
Đánh giá về công lao và đóng góp của Cao Xuân Dục, tác giả Hồng Sâm trong sách “Cao Xuân Dục – nhà văn hóa lớn của thời cận đại” nhận xét: “Lúc làm quan ở Quảng Ngãi cũng như khi giữ những chức vụ quan trọng ở Bắc Kỳ hay tại kinh đô Huế, Cao Xuân Dục luôn sử dụng vị thế quan chức của mình để giúp ích cho đời, cho dân. Ở những nơi ông từng nhậm chức, trong nhân dân hầu như không có dư luận nào đánh giá thấp về công trạng và tư cách của một vị quan phụ mẫu; trái lại, ông thường được nhìn nhận như một quan chức mẫn cán, liêm khiết, có tài thao lược, ứng xử đúng mực và biết trọng dụng người tài… Khi làm Tổng đốc liên tỉnh Sơn - Hưng - Tuyên, Cao Xuân Dục được nhân dân làng Sài Sơn, huyện Quốc Oai dành tình cảm mến mộ sâu sắc, thể hiện qua việc tạc tượng ông tại động Hoàng Xá, núi Phượng Hoàng.” ([24])
Bên cạnh vai trò một vị quan đại thần tận tụy với công việc triều chính, Cao Xuân Dục còn là một sĩ phu mang tinh thần dân tộc sâu sắc. Trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, ông không lựa chọn con đường đối kháng công khai hay tham gia trực tiếp các phong trào vũ trang, mà bằng uy tín, vị thế và ảnh hưởng của mình trong triều đình, ông đã âm thầm nâng đỡ, che chở cho nhiều sĩ phu, trí thức có khuynh hướng yêu nước. Trong giới sĩ phu Bắc Hà và Trung Kỳ, ông được xem là một vị đại thần biết dung hòa giữa trách nhiệm quan trường và nghĩa vụ đối với quốc gia([25])..
Nhận xét của chí sĩ Phan Bội Châu trong “thư dâng Long Cương Cao đại nhân” đã phản ánh rõ uy tín và đạo đức của Cao Xuân Dục lúc đương thời: “Thống Nam Định nghìn vạn người một miệng, trẻ con ca tụng mà bọn lén lút cũng tung hô…Kể đạo đức cao hơn cả một đời…yêu kẻ hiền tài như mệnh mình, chỉ chăm đối với kẻ sĩ không nghĩ tới quá hậu… Văn chương gồm cả Đại Tô([26]), kinh tế giỏi hơn Tiểu Phạm([27])…Tướng công là bậc đại nhân ở châu ta, là bậc vĩ nhân thời hiện tại([28])
z7919974371462 393b3996a5622d1ab8f131d5099f8660
Hình ảnh: Cao Xuân Dục, chủ khảo trường thi hương Hà Nam
3. Hậu thế tri ân công lao đóng góp của Cao Xuân Dục
Sau khi mất, Cao Xuân Dục không chỉ được ghi nhận trong sử sách và các công trình nghiên cứu học thuật, mà ông còn được hậu thế trân trọng tôn vinh, tri ân bằng nhiều hình thức thiết thực và có ý nghĩa lâu dài. Tiêu biểu là việc nhân dân làng Sài Sơn tạc tượng ông trong động Hoàng Xá, núi Phượng Hoàng, huyện Quốc Oai, thể hiện sự kính trọng đối với một nhân vật có nhiều đóng góp cho dân cho nước. Trước năm 1945, tại Vinh có trường tiểu học Pháp – Việt([29]) mang tên ông, dành cho học sinh nam([30]). Bên cạnh đó, nhiều con đường ở nhiều địa phương đặt tên là Cao Xuân Dục, như tại Nghệ An, Huế, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Qua những hình thức ghi nhớ và tôn vinh đó, Cao Xuân Dục đã trở thành biểu tượng tiêu biểu của truyền thống hiếu học, trọng đạo lý và tinh thần phụng sự đất nước, góp phần nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau trân trọng, kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của cha ông.
z7919923135345 0392d5dfa7488697c4a1fe49176c4f9c
Hình ảnh: Bức phù điêu Đông các đại học sĩ Cao Xuân Dục tạc bằng đá trăng
Đặc biệt, Cao Xuân Dục đã được ghi danh trong các công trình lịch sử, từ điển nhân vật và các tuyển tập về danh nhân, nhà văn hóa Việt Nam thời cận đại, khẳng định vị trí xứng đáng của ông trong tiến trình phát triển lịch sử, văn hóa, giáo dục dân tộc. Sự tôn vinh đó không chỉ là sự tri ân đối với một cá nhân tài năng đức độ, mà còn thể hiện thái độ trân trọng của xã hội đối với những giá trị bền vững mà ông để lại, góp phần bồi đắp truyền thống hiếu học, ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến cho đất nước của các thế hệ hôm nay.
Kết luận
Nhìn lại hành trình 81 năm cuộc đời và 37 năm dấn thân chốn quan trường của Cao Xuân Dục, ta không chỉ thấy chân dung của một vị đại thần mẫn cán, liêm khiết, mà còn thấy hiện thân của một sĩ phu mang tinh thần dân tộc sâu sắc. Ông chính là gạch nối giữa truyền thống khoa bảng Hán học rực rỡ của dòng họ Cao Xuân làng Thịnh Mỹ với nền trí thức hiện đại của dân tộc.
Di sản lớn nhất mà Long Cương Cao Xuân Dục để lại cho hậu thế không chỉ là những chức tước vinh hiển hay công trạng hiển hách, mà chính là một nhân cách văn hóa cao đẹp – một người luôn biết dùng vị thế của mình để che chở cho kẻ sĩ, giúp ích cho dân và phụng sự đất nước một cách âm thầm nhưng bền bỉ. Đúng như nhận định của lãnh đạo tỉnh Nghệ An: “Cuộc đời ông là tấm gương về nhân cách cao đẹp, được người đương thời và hậu thế kính trọng; sự nghiệp của ông gắn liền với những cống hiến quan trọng trong công cuộc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống của dân tộc” ([31])
Sự tôn vinh của hậu thế hôm nay thông qua những ngôi trường, con đường mang tên ông chính là lời khẳng định cho giá trị bền vững của một tài năng và đức độ. Cao Xuân Dục mãi là biểu tượng tiêu biểu của tinh thần hiếu học và lòng tận tụy, là điểm tựa tinh thần để các thế hệ hôm nay và mai sau tiếp nối khát vọng cống hiến cho quê hương xứ Nghệ và đất nước Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
- Cao Xuân Dục, Long Cương văn tập, Nxb Lao động.
- Đào Tam Tỉnh (chủ biên), Khoa bảng Nghệ An (1075–1919), Nxb Nghệ An.
- Đỗ Văn Ninh, Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb Thanh niên.
- Hồng Sâm, Cao Xuân Dục – Nhà văn hóa lớn thời cận đại, Nxb Nghệ An.
- Lê Thị Hồng Lâm, Cao Xuân Dục – Một sĩ phu có tinh thần dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, Luận văn thạc sĩ.
- Lý lịch kê khai của Cao Xuân Dục (bản dịch).
- Ninh Viết Giao (2004), Văn bia Nghệ An, Nxb Nghệ An.
- Ninh Viết Giao (chủ biên), Từ điển nhân vật xứ Nghệ, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 9, Nxb Giáo dục.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ phụ biên, Nxb Văn hóa – Văn nghệ.
- Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nxb Văn học.
- UBND tỉnh Nghệ An, Kỷ yếu Hội thảo Danh nhân văn hóa Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục (1842–1923).
 

[1] Truyền ngôn của con cháu dòng họ Cao Xuân xã An Châu (Diễn Thịnh cũ) và họ Cao xã Diễn Châu (Diễn Thành cũ) cho rằng thủy tổ của họ Cao Xuân là Cao Quýnh còn có tên là Cao Lô (1439 - ?), người làng Phú Trung, xã Cao Xá, tổng Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, thừa tuyên Nghệ An, nay là xã Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Là danh thần thời Lê sơ, từng đỗ Thám Hoa (1475), làm quan tới chức Đông Các Đại Học Sĩ. tên được khắc trên bia đá tại Văn miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Sau khi mất được nhân dân lập đền thờ, triều đại phong kiến ban sắc phong thần.
[2] Kỷ yếu hội thảo Danh nhân văn hóa Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục (1842 - 1923), tr19,20.
[3] Tiến sỹ Đặng Văn Thụy người Nho Lâm chổng bà Cao Thị Bích con gái đầu Cao Xuân Dục; Phó bảng Hoàng Tăng Bí người Đông Ngạn, Hà Nội chổng bà Cao Thị Thuyên; Phó bảng Lê Xuân Mai người Quỳnh Đôi chổng bà Cao Thị Trâm; Tiến sĩ Nguyễn Xuân Trị, người Diễn Châu, con trưởng của Nguyễn Xuân Ôn, thủ lĩnh tiêu biểu phong trào Cần Vương ở Nghệ An chồng bà Cao Thị Quán;
[4] Đoàn Đình Chi đỗ Cử nhân tân học tại Pháp chồng bà Cao Thị Thâm.
[5] Hiệu Long Cương mà Cao Xuân Dục sử dụng được lấy theo địa danh Ngọa Long Cương, một gò đất cao nổi lên giữa vùng đồng bằng ven biển, được tạo thành bởi lớp vỏ sò, vỏ bạng kết lại qua thời gian, tạo nên thế đất đặc biệt, nổi bật giữa không gian bằng phẳng xung quanh. Nhân dân địa phương từng mô tả thế đất ấy bằng câu:
“Song cao đột khởi Ngọa Long cương,
Đầu giáo ngang nhiên đắc địa trường….”
[6] Về năm sinh của Cao Xuân Dục có một số tài liệu ghi ông sinh năm 1842 là căn cứ theo tài liệu của một học giả người Pháp. Sau khi các nhà nghiên cứu tiếp cận với thông tin tại bia mộ của ông thì khẳng định Cao Xuân Dục sinh năm 1843, vì bia mộ này do con trai Cao Xuân Tiếu lập sau khi ông mất.
[7] Làng có tên là Thịnh Khánh đến đời vua Đồng Khánh kiêng húy nhà Vua nên đổi thành Thịnh Mỹ
[8] Quan chế thời Nguyễn có quy định phong phẩm hàm cho người thân đã mất của các quan viên (gọi là phong ân sủng thụy hàm) như một hình thức tri ân. Các phẩm hàm được phong theo hình thức ân sủng cho những người đã mất thường được khắc trên bia mộ, bài vị hoặc sắc phong, nhưng đó không phải là thực hàm nên không được hưởng lương. Theo quy định số đời được hưởng ân sủng nhiều nhất là 03 đời, gồm cha mẹ (ruột hay nuôi), ông bà (ông bà nội), ông bà cố (tức ông bà cố nội) và những phu nhân của các quan viên tùy thuộc vào trật phẩm của quan viên đó.
[9] Cao Trọng Sinh (1805 -? ) quê Nho Lâm, Diễn Châu đậu Cử Nhân khoa Đinh Mùi, niên hiệu Thiệu Trị thứ 7(1847) từng giữ chức Huấn đạo, Giáo thụ, Tri phủ, Tư nghiệp, Đốc học, Án Sát. Sau khi về hưu ông mở trường dạy học và có nhiều học trò thành đạt.
[10] Nguyễn Đức Đạt (1824 - 1887), quê Nam Đàn, đậu Thám hoa, từng giữ các chức vụ: Thị lang, Cấp sự trung, Đốc học Nghệ An, Án Sát, Tuần phủ. Sau đó về quê mở trường dạy học. Nguyễn Đức Đạt nổi tiếng về học vấn uyên thâm và đức độ học trò theo học rất đông và nhiều người thành đạt.
[11] Phan Hữu Tự (1806 - 1865), quê xã Diễn Quảng, đậu Cử nhân khoa thi Quý Mão (1843) từng giữ chức tri huyện, tri phủ, Viên ngoại bộ Lại. Một thời gian sau ông xin về quê mở trường dạy học, học trò theo học rất động và có nhiều người thành đạt.
[12] Đào Tam Tĩnh, Khoa bảng Nghệ An  (1075 - 1919), NXB Nghệ An, tr238
[13] Trực sảnh Bộ Hình chuyên đảm trách việc xử lý hồ sơ, thụ lý án, ghi chép và làm công tác hành chính – tư pháp
[14] Thời Nguyễn Bộ Hộ gồm 6 ty: Điển lại ty chuyên trách điển tịch, văn thư, quyết toán, tiếp nhận và duyệt sổ sách từ các địa phương; Nam điển ty phụ trách tài chính – thuế khóa – điền địa – sổ đinh của Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ; Bắc điển ty phụ trách tài chính – thuế khóa – điền địa – sổ đinh các tỉnh Bắc Kỳ và vùng Bắc Trung Kỳ; Khoản Hạt Ty chuyên trách thu – chi ngân khố trung ương, tổng hợp dự toán – quyết toán; Điền địa ty chịu trách nhiệm ruộng đất, đo đạc, lập bản đồ, quản lý sổ đinh điền; Hộ tịch ty hụ trách hộ khẩu, nhân đinh, nhân số, chuyển dịch dân cư.
[15] Theo Đại Nam Nhất thống chí tập 3 cho biết: Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) lấy 3 phủ Ứng Hòa, Lý Nhân, Thường Tín thuộc Sơn Nam đặt riêng làm tỉnh Hà Nội. 
[16] Hồng lô tự thiếu khanh là chức phó của Hồng lô tự khanh, thời Nguyễn thuộc trật chánh ngũ phẩm văn giai.
[17] “Thự” tạm quyền, tam giữ chức, chưa được phong chính thức 
[18] Theo từ điển chức quan Việt Nam: Hiệp biên Đại học sĩ là hàm phong cho các quan Thượng thư thực thụ, thường dùng gia phong cho các quan trật tòng nhất phẩm văn giai.
[19] Phó tổng tài là chức phó quan của Quốc Sử quán, phối hợp với Tổng tài chỉ đạo biên soạn các bộ sử lớn; Đôn đốc các nhóm sử quan, phân công biên soạn, hiệu khảo; Duyệt các bản thảo, đối chiếu sự kiện, kiểm tra trích dẫn; có quyền phản biện và sửa chữa bản thảo trước khi trình vua; đề xuất các vấn đề liên quan đến lịch sử, điển chế, lễ nghi; Tham gia bình nghị khi triều đình cần tham khảo ý kiến học thuật.
[20] Theo từ điển quan chức Việt Nam: Quốc sử quán là cơ quan chuyên biên soạn quốc sử.
[21] Theo từ điển quan chức Việt Nam: Vinh lộc đại phu là chức tản quan bên văn. Nhà Nguyễn lấy làm thụy hiệu phong cho các quan trật tòng nhất phẩm và là danh hiệu đặc phong cho đại thần trật nhất phẩm. 
[22] Đây là chức danh dành cho các đại thần ở lại Kinh đô (Huế) để trực tiếp giúp vua điều hành triều chính, đặc biệt trong những thời điểm vua đi tuần du, rời kinh, hoặc khi cơ mật, quân vụ, chính trị cần có người điều phối.
[23] Thái tử Thiếu bảo là một trong ba tước hàm thuộc nhóm Tam thiếu (Thiếu sư – Thiếu phó – Thiếu bảo), dành để phụ giúp trong việc giáo dưỡng Thái tử. Đến thời Nguyễn đây chỉ còn là hàm danh dự, phong cho các đại thần lớn tuổi, công trạng lớn.
[24] Hồng Sâm, Cao Xuân Dục nhà văn hóa lớn của thời cận đại, NXB Nghệ An, tr23,24
[25] Tương truyền khi đảm đương chức Phụ chính đại thần dưới thời vua Thành Thái, Cao Xuân Dục ở trong Viện Cơ mật ông có xu hướng bất hợp tác với Tây. Lúc bấy giờ thực dân Pháp có ý định đưa Trương Như Cương lên làm Phó Quốc vương bên cạnh vua nước Nam. Trong cuộc họp đình thần bàn việc này, nhiều người không đồng ý nhưng không ai dám công khai phát biểu ý kiến chống lại chủ trương đó của người Pháp. Riêng Cao Xuân Dục sau khi đã lập đàn tế trời, cụ sai người đem giấy bút đến rồi viết  lên giấy và đọc to trước mọi người: “Thiên vô nhị nhật, quốc vô nhị vương. Thần Đông các đại học sỹ Cao Xuân Dục bất cảm ký” nghĩa là: Trời không có hai mặt trời, nước không có hai vua. Thần là Đông các đại học sỹ Cao Xuân Dục không dám ký.
[26] Đại Tô là nói tới Tô Đông Pha là một trong 8 nhà văn lớn thời Đường Tống
[27] Tiểu Phạm là nói đến Phạm Trọng Yêm là nhà văn, nhà chính trị lớn đời Tống
[28] Phan Bội Châu toàn tâp, tập 1, tr139,141
[29] Theo tài liệu của nhà nghiên cứu Phạm Xuân Cần cho biết: Trường tiểu học Pháp – Việt thành lập tháng 6 năm 1899, do Lê Văn Miến làm hiệu trưởng, lúc này là trường chung cho cả nam và nữ học. Đến năm 1925, sau khi trường được xây dựng lại thành 2 trường nam nữ tác riêng. Lúc này trường Cao Xuân Dục dành cho nam sinh; trường Nguyễn Trường Tộ dành cho nữ sinh.
[30] Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An tập 1 từ nguyên thủy đến cách mạng tháng Tám năm 1945,NXB Chính trị Quôc sgia, tr748
[31] Hội thảo khoa học Lịch sử Việt Nam, Danh nhân Văn hóa Đông các Đại học sĩ (1843 - 1923) kỷ yếu hội thảo, tr 9.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Hưng - Ban Quản lý Di tích Nghệ An

Tổng số điểm của bài viết là: 14 trong 3 đánh giá

Xếp hạng: 4.7 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Văn bản mới

58/2026/QH16

Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hoá Việt Nam

lượt xem: 199 | lượt tải:81

1984/HD-BVHTTDL

Hướng dẫn số 1984/HD-BVHTTDL của Bộ VHTTDL Thực hiện nội dung tiêu chí thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và điều kiện tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du

lượt xem: 124 | lượt tải:81

20/2022/NQ-HĐND

Nghị quyết số 20/2022/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An: Một số chính sách hỗ trợ phát triển đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Nghệ An

lượt xem: 67 | lượt tải:35

28/2022/NQ-HĐND

Nghị quyết số 28/2022/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An: Quy định một số chính sách hỗ trợ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An

lượt xem: 88 | lượt tải:41

162/2024/QH15

Nghị quyết số 162/2024/QH15 của Quốc hội: Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035

lượt xem: 127 | lượt tải:61
 
Quảng cáo
Liên kết website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây